1. Về giới tính (Sự phân hóa rõ rệt theo khối)
Dữ liệu cho thấy có sự phân cực giới tính rất lớn giữa các môn Tự nhiên/Kỹ thuật và các môn Xã hội/Ngôn ngữ.
Nam giới áp đảo ở khối Tự nhiên. Lớp chuyên Toán có sự chênh lệch lớn nhất với 35/36 học sinh trúng tuyển là nam (chiếm hơn 97%). Tương tự, môn Tin học có 31/35 nam. Vật lý và Hóa học cũng nghiêng hẳn về nam giới với lần lượt 27 và 26 nam sinh trúng tuyển.
Nữ giới chiếm ưu thế ở khối Xã hội, Sinh và Ngoại ngữ. Lớp chuyên Ngữ văn có 32/35 nữ (91,4%), và chuyên Sinh học có 25/35 nữ. Chuyên Tiếng Anh có quy mô trúng tuyển gấp đôi các lớp khác (70 học sinh) và tỷ lệ nữ cũng vượt trội với 44 nữ, 26 nam.
2. Độ khó và mức độ cạnh tranh
Tiếng Anh – Cạnh tranh khốc liệt nhất. Đây là môn có lượng thí sinh dự thi đông nhất (321 em) để giành 70 suất. Điểm chuẩn của Tiếng Anh cũng ở mức cao nhất trường là 47,1 điểm.
Vật lý và Hóa học – Đề thi có tính phân loại cao (khó nhất): Mặc dù mức điểm thủ khoa khá cao (Lý: 54,75; Hóa: 55,75), nhưng điểm chuẩn để đậu vào hai lớp này lại thấp nhất trường, chốt ở mức 43,5 điểm. Điều này phản ánh có thể đề thi chuyên của 2 môn này khá khó và khắt khe.
Toán và Ngữ Văn – Cạnh tranh cao nhưng điểm chuẩn tầm trung. Cả hai môn đều có lượng thí sinh dự thi rất đông (Toán: 179 em, Văn: 184 em). Tuy nhiên điểm chuẩn giữ ở mức trung bình khá (Toán: 45,5; Văn: 46,5).
Tin học – Thủ khoa cao điểm nhất, đạt mức 58,0 điểm (cao nhất toàn trường), và điểm chuẩn cũng thuộc hàng top (46,93) dù lượng dự thi ít nhất (67 em).
3. Sự khác và giống nhau giữa các môn
Giống nhau: Trừ môn Tiếng Anh tuyển chỉ tiêu đôi (70 học sinh), các lớp chuyên còn lại đều có quy mô tuyển sinh tương đương nhau, khoảng 35 học sinh/lớp (môn Toán tuyển 36 em). Điểm tối đa của các thủ khoa khá đồng đều, thường dao động trên ngưỡng 51 điểm.
Khác nhau: Sự chênh lệch rất lớn về mức độ quan tâm và số lượng thí sinh đăng ký dự thi (321 em thi Tiếng Anh so với 67 em thi Tin học). Điều này dẫn tới sức ép tỷ lệ chọi không đồng đều. Ngoài ra, khoảng cách điểm chuẩn dao động lớn (từ 43,5 đến 47,1) phản ánh đặc thù khó/dễ riêng của từng hội đồng ra đề.

4. So sánh với 3 năm liền trước (2023, 2024, 2025)
Lịch sử lạm phát điểm số khác với nhận định thông thường rằng biên độ điểm chuẩn các năm chỉ trồi sụt từ 3,00 đến hơn 5,00 điểm, năm 2026 chứng kiến sự tăng bứt phá ở hàng loạt môn, cụ thể:
– Nhóm tăng đột biến (Sinh học, Tin học).
+ Sinh học tăng kỷ lục từ mức 34,75 (2023); 40,50 (2024); 35,75 (2025) lên tới 46,75 trong năm 2026. Đây là mức tăng tới 11 điểm so với năm trước.
+ Tin học: Lịch sử các năm trước môn Tin luôn có điểm chuẩn thấp nhất trường (dao động 31,75-36,90). Tuy nhiên năm 2026, điểm chuẩn môn Tin nhảy vọt lên 46,93, lọt vào top 2 những môn lấy điểm cao nhất.
– Nhóm tăng trưởng đều và cạnh tranh gay gắt (Ngữ văn, Tiếng Anh):
+ Ngữ văn: Tăng tịnh tiến qua từng năm: 37,75 (2023) -> 38,75 (2024) -> 42,25 (2025) và đạt đỉnh 46,50 vào 2026.
+ Tiếng Anh: Luôn giữ mức cao (39,50-42,55 ở các năm trước) và năm 2026 chốt hạ ở mức cao nhất toàn trường: 47,10.
– Nhóm biến động hình sin (Toán, Vật lý, Hóa học):
+ Môn Toán sau khi sụt giảm xuống 38,00 vào năm 2025 đã tăng mạnh trở lại mức 45,50 (tương đương với đỉnh của năm 2024 là 45,25).
+ Môn Vật lý giảm nhẹ từ đỉnh 44,00 (2025) xuống 43,50 (2026) nhưng vẫn cao hơn hẳn mốc 36,00-39,50 của giai đoạn 2022-2024.
+ Môn Hóa học lập đỉnh mới là 43,50 so với mốc 37,75 của năm 2025.
5. Đánh giá độ khó và tỷ lệ chọi thực tế năm 2026
Theo số liệu thống kê, năm 2026 trường Chuyên Lê Quý Đôn thu hút tới 1.049 học sinh đăng ký để cạnh tranh cho 280 chỉ tiêu (tỷ lệ chọi trung bình toàn trường gần 1:3,7).
– Tiếng Anh – Môn học áp lực nhất: Có tới 322 hồ sơ đăng ký cho 2 lớp chuyên (70 chỉ tiêu). Số lượng hồ sơ đông đảo nhất này giải thích vì sao điểm chuẩn Tiếng Anh luôn bị đẩy lên cao chót vót (47,10).
– Tin học – Ít thí sinh nhưng chất lượng cực cao: Môn Tin học chỉ có 66 học sinh đăng ký dự thi (ít nhất trường), thế nhưng điểm chuẩn lại cao kỷ lục (46,93), chứng tỏ mặt bằng chung của 66 thí sinh này vô cùng xuất sắc, hoặc đề thi Tin học năm 2026 có mức độ tiếp cận dễ hơn rất nhiều so với các năm trước.
Công thức tính điểm nhân 3 môn chuyên: Điểm xét tuyển được tính bằng Văn + Toán + Anh + (Điểm chuyên x 3). Việc môn chuyên được nhân hệ số 3 là nguyên nhân chính khiến tổng điểm xét tuyển có biên độ dao động rất lớn. Một đề thi chuyên năm nay chỉ cần dễ hơn năm ngoái 1-2 điểm, tổng điểm chuẩn lập tức sẽ bị dội lên từ 3 đến 6 điểm. Điểm chuẩn cao kỷ lục của năm 2026 phản ánh đề thi các môn điều kiện (Toán, Văn, Anh chung) hoặc đề chuyên năm nay có vẻ “dễ thở” hơn so với các năm 2023, 2025.
6. Khác và giống nhau giữa các khối môn
Điểm giống: Tất cả các thí sinh trúng tuyển đều phải vượt qua một rào cản chung rất khắt khe của Bộ/Sở: Các bài thi đều phải đạt từ 5,0 điểm trở lên (không có môn nào bị liệt dưới 5).
Điểm khác: Sự chênh lệch về xu hướng chọn nghề nghiệp/khối học. Học sinh có xu hướng đổ dồn vào các khối ngoại ngữ (Tiếng Anh 322 em), Toán (183 em), Văn (188 em) trong khi các môn khoa học cơ bản như Hóa (108 em), Lý (94), Sinh (88), Tin (66) lại ít được lựa chọn làm nguyện vọng thi hơn hẳn
7. Khẳng định về ranh giới giới tính
Việc cập nhật thêm phổ điểm không làm thay đổi đặc thù giới tính đã phân tích trước đó. Nam sinh tiếp tục giữ vị thế tuyệt đối ở các môn Toán, Tin, Lý, Hóa; trong khi đó Nữ sinh là lực lượng chiếm lĩnh hoàn toàn tại các lớp Ngữ Văn, Tiếng Anh và Sinh học. Đây dường như là một đặc thù và truyền thống phân hóa khối ngành ổn định tại Khánh Hòa qua các năm./.

